Saturday, July 31, 2010


Việt Nam với phong trào Olympic Quốc tế
9/15/2009 3:41:07 PM

Sau khi được thành lập (năm 1976, Uỷ ban Olympic Việt Nam đã xúc tiến đặt mối quan hệ mật thiết với Uỷ ban Olympic Quốc tế (IOC) và các Liên đoàn Thể thao Quốc tế (IFs)...


Năm 1976, sau khi được thành lập theo quyết định số  500/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban Olympic Việt Nam đã xúc tiến đặt mối quan hệ mật thiết với Uỷ ban Olympic Quốc tế (IOC) và các Liên đoàn Thể thao Quốc tế (IFs), triển khai các thủ tục cần thiết để tham gia phong trào Olympic Quốc tế.

 

Các hoạt động ban đầu

 

Năm 1979, Uỷ ban Olympic Quốc tế chấp nhận đơn xin gia nhập phong trào Olympic Quốc tế của Uỷ ban Olympic Việt Nam.

Năm 1980, Uỷ ban Olympic quốc tế đã thông báo quyết định của Ban chấp hành Uỷ ban Olympic quốc tế họp tại Lausanne đồng ý công nhận chính thức Uỷ ban Olympic Việt Nam. Trong năm này, Ban tổ chức Thế vận hội lần thứ XXII đã gửi tới Uỷ ban Olympic Việt Nam lời mời chính thức tham dự Thế vận hội lần thứ XXII được tổ chức tại Matxcơva. Từ đó Uỷ ban Olympic Việt Nam trở thành thành viên chính thức của phong trào Olympic Quốc tế. Sự kiện trọng đại này được mở ra cùng với sự phát triển mới của Thể thao Việt Nam.
 
Kể từ sau Đại hội Uỷ ban Olympic Việt Nam lần thứ nhất (tháng 4/1993), các hoạt động của Uỷ ban Olympic Việt Nam dần dần rõ nét và có hiệu quả hơn. Uỷ ban Olympic Việt Nam đã góp phần vào việc phát triển phong trào thể dục thể thao trong nước, mở rộng mối quan hệ với các tổ chức thể thao khu vực và trên Thế giới, mở rộng mối quan hệ với các Uỷ ban Olympic Quốc gia khác, nhất là với các Uỷ ban Olympic Quốc gia khu vực Đông Nam Á và Châu Á.


Hoạt động đối ngoại của Uỷ ban Olympic Việt Nam trong thời gian qua là tham gia tích cực các Hội nghị Olympic châu lục, khu vực, Thế giới và tham gia các Đại hội thể thao.

 

Năm 1980, sau khi được IOC công nhận là thành viên chính thức của phong trào Olympic quốc tế, Olympic Việt Nam đã tham gia các hoạt động Quốc tế sau:

 

- Năm 1981, đồng chí Lê Đức Chỉnh, Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao - Chủ tịch Uỷ ban Olympic Quốc gia Việt Nam đã tham dự Hội nghị toàn thể phong trào Olympic Quốc tế tại Baden Baden (CHLB Đức) nhằm đấu tranh bảo vệ tinh thần và tư tưởng trong sáng của Hiến chương Olympic. 


- Năm 1994, Bộ trưởng Hà Quang Dự, Chủ tịch Uỷ ban Olympic Việt Nam đã tham dự Hội nghị toàn thể phong trào Olympic và dự lễ kỷ niệm 100 năm phong trào Olympic hiện đại tại thủ đô Paris (Pháp) từ ngày 29/8 - 3/9/1994.

 

- Tham dự Đại hội đồng Hiệp hội các Uỷ ban Olympic Quốc gia (ANOC); Hội nghị các Uỷ ban Olympic Quốc gia với Ban chấp hành IOC tại Mỹ, Mexico, Hàn Quốc, Australia, Tây Ban Nha, , Brazil,  Malaysia.


- Tham dự các cuộc họp Hội đồng Olympic châu Á hàng năm tại Ấn Độ, Kuwait, Tiểu vương quốc Ả-Rập, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Uzebekistan.

 

- Tham dự các Hội nghị Tổng thư ký các Uỷ ban Olympic Quốc gia châu Á với Giám đốc Uỷ ban đoàn kết Olympic để xây dựng và thực hiện chương trình đoàn kết Olympic và chuẩn bị tham dự Đại hội  thể thao Châu Á và Đại hội Olympic.

 

- Tham dự các cuộc họp Hội đồng Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á tại Philippin, Singapore, Thái Lan, Brunei... để thảo luận chương trình phát triển hợp tác thể dục thể thao khu vực và chuẩn bị cho Đoàn thể thao Việt Nam tham dự SEA GAMES.


- Tham dự các hội thảo, diễn đàn Olympic Quốc tế tại Smorit (Thuỵ Sĩ), tại Malaysia và đặc biệt là đã tham dự hội thảo xây dựng một Thế giới hoà bình và tốt đẹp hơn thông qua thể thao và lý tưởng Olympic tổ chức ngày 6/11/1998 tại New York. Tại đây, lần đầu tiên trong lịch sử Liên hợp quốc, từ diễn đàn khoá họp kỷ niệm lần thứ 50 ngày thành lập Liên hợp quốc đã vang lên tiếng nói của các nhà Lãnh đạo Uỷ ban Olympic Quốc tế, lãnh đạo Thể dục Thể thao các nước thành viên Liên hợp quốc và phong trào Olympic Quốc tế đã phản ánh vai trò của Thể thao và lý tưởng Olympic đối với con người, đối với cộng đồng xã hội, đối với sự phát triển của nhân loại và hoà bình Thế giới, đồng thời khẳng định thể thao ngày càng có vị trí trong hoạt động của Thế giới, nhất là trong xu thế hoà bình và phát triển hiện nay.


Ngoài các cuộc trao đổi, tiếp xúc tại các hội nghị, hội thảo Quốc tế, Uỷ ban Olympic Việt Nam đã hai lần đón và làm việc với Chủ tịch Uỷ ban Olympic Quốc tế tại Hà Nội, đón Chủ tịch Hiệp hội các Uỷ ban Olympic Quốc gia, Chủ tịch Hội đồng Olympic châu Á ...

 


Tham dự các Đại hội thể thao:


* Olympic

 

- Việt Nam lần đầu tiên tham gia Đại hội Olympic vào năm 1980, tại Mosscow (Liên bang Nga) với 35 VĐV, thi đấu ở các môn: Bơi lội, Vật tự do, Điền kinh, Bắn súng nhưng chưa giành được huy chương.

- Năm 1984 Đại hội Olympic được tổ chức tại Los Angeles (Mỹ) nhưng Việt Nam không tham dự.

- Năm 1988, ĐH Olympic được tổ chức ở Seoul (Hàn Quốc). Việt Nam cử 10 VĐV đi thi đấu ở các môn: Điền kinh, Quyền Anh, Bơi lội, Vật, Bắn súng, Xe đạp nhưng chưa giành được huy chương.

- Năm 1992, ĐH Olympic được tổ chức ở Barcelona (Tây Ban Nha). Việt Nam có 7 VĐV tham gia ở các môn:  Điền kinh, Quyền Anh, Bơi lội, Vật, Bắn súng, Xe đạp nhưng vẫn chưa giành được huy chương.

- Năm 1996, ĐH Olympic được tổ chức ở Atlanta (Mỹ). Việt Nam chỉ có 6 VĐV tham gia ở các môn: Điền kinh, Bơi, Bắn súng và Judo nhưng chưa giành được huy chương.

- Năm 2000, ĐH Olympic được tổ chức ở Sydney (Australia). Việt Nam có 7 VĐV tham dự ở các môn: Điền kinh, Bơi lội, Bắn súng, Taekwondo. VĐV Trần Hiếu Ngân giành được HCB ở môn Taekwondo hạng 57 kg nữ. Đây là tấm huy chương đầu tiên của thể thao Việt Nam trên đấu trường Olympic. Kết quả, Việt Nam xếp hạng 64/199 nước tham dự.

 - Năm 2004, ĐH Olympic được tổ chức tại Athens (Hy Lạp). Việt Nam có 11 VĐV tham gia ở các môn: Điền kinh, Bơi, Bóng bàn, Bắn súng, Canoeing, Taekwondo, Cử tạ nhưng không giành được huy chương.

- Năm 2008, ĐH Olympic được tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc). Việt Nam cử 13 VĐV đi thi đấu ở các môn: Điền kinh, Bơi, Bóng bàn, Bắn súng, Taekwondo, Cử tạ, Cầu lông, Thể dục dụng cụ. Kết quả, giành 1 HCB từ môn cử tạ của lực sỹ Hoàng Anh Tuấn ở hạng 56 kg nam. Đoàn Việt Nam xếp hạng thứ 71/204 nước tham gia.

Nhìn chung, qua những lần tham gia các Đại hội, Việt Nam chỉ cử một số ít vận động viên tham dự với mục đích chính là hội nhập và học hỏi vì trình độ còn thấp.

 

* ASIAD


- Tham gia kỳ ASIAD năm 1982 tại New Delhi - Ấn Độ: Lần đầu tiên Việt Nam giành 1 huy chương đồng môn bắn súng

 

- Năm 1986 (phối hợp với CHDCND Triều Tiên, Việt Nam chỉ cử quan sát viên đến dự)

 

- Năm 1990 tại Bắc Kinh, Việt Nam đã tham gia ASIAD 11 góp phần bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc

 

- Năm 1994 tại Hirosima - Nhật Bản, ASIAD 12 được tổ chức. Llần đầu tiên Việt Nam đạt 1 huy chương Vàng môn Taekwondo và 2 huy chương Bạc, đứng thứ 19/42 trong bảng xếp hạng.

 

- Năm 1998, Việt Nam tham dự ASIAD 13 tại Băngkok - Thái Lan và đã đạt 17 huy chương các loại (1 Vàng, 5 Bạc, 11 Đồng). Đây là kết quả tốt nhất trong 5 kỳ ASIAD của Việt Nam.

 

- Năm 2002, ASIAD lần thứ 14 được tổ chức tại Busan-Hàn Quốc. Việt Nam có 125 vận động viên, tham dự ở 7 môn thi, đạt được 18 huy chương (4 Vàng, 7 Bạc và 7 Đồng), xếp thứ 15/44 nước tham dự.

 

- Việt Nam tham gia ASIAD lần thứ 15 tại Doha (Quatar) với 247 vận động viên, tham gia thi tài ở 25 môn thể thao. Kết quả, Việt Nam đạt 23 huy chương (3 Vàng, 13 Bạc và 7 Đồng). xếp thứ 19/45 nước tham gia.


* Tham gia các kỳ SEA GAMES:


- Năm 1959: Việt Nam là một trong 6 nước thành viên sáng lập Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á. Sau 7 lần tham gia, Việt Nam đã đạt được một số thành tích, nổi bật ở các môn: Bóng bàn, Bắn súng, Quần vợt, Bơi, Xe đạp, Bóng đá (Vô địch năm 1959), Bóng chuyền nam (Vô địch năm 1967).

Sau năm 1980, Nhà nước đã có chủ trương tham gia trở lại nhưng do công tác chuẩn bị và lực lượng VĐV của Việt Nam còn hạn chế, phải đến năm 1989 Việt Nam mới chính thức tham dự.

 

- Năm 1989: Việt Nam tham dự SEA GAMES 15 ở Kuala Lumpur (Malaysia) với 46 VĐV, thi đấu ở 8 môn thể thao. Kết quả , Việt Nam đạt 19 Huy chương (3 Vàng, 11 Bạc, 5 Đồng).


- Năm 1991: Việt Nam tham dự SEA GAMES 16 ở Manila (Philippines) với 100 VĐV, tham dự 15 môn thi với 69 nội dung. Đây là lần dự thi có số VĐV đông nhất tính từ SEA Games đầu tiên của Việt Nam. Kết quả, Việt Nam đạt 29 Huy chương (7 Vàng, 12 Bạc, 7 Đồng), đứng thứ 7/9 quốc gia tham dự.


- Năm 1993: Việt Nam tham dự SEA GAMES 17 ở Singapore, với 139 VĐV, tham gia tranh tài ở 15/29 môn thể thao. Kết quả, Việt Nam đạt 34 Huy chương (9 Vàng, 6 Bạc, 19 Đồng), xếp thứ 6/9 nước tham dự.


- Năm 1995: Việt Nam tham dự SEA GAMES 18 ở Chiangmai - Thái Lan, với 139 VĐV, tham gia thi đấu ở 15/28 môn thể thao. Kết quả, Việt Nam đạt 52 Huy chương (10 vàng, 18 Bạc, 24 Đồng), xếp thứ 6/10 nước tham gia Đại hội.


- Năm 1997: Việt Nam tham dự SEA GAMES 19 ở Jakacta - Indonesia, với 340 VĐV, tham gia ở 24/34 môn thể thao. Đây là lần có lực lượng VĐV tham dự đông đảo nhất trong lịch sử thể thao Việt Nam. Kết quả, đoàn Việt Nam đạt 133 Huy chương (35 Vàng, 48  Bạc, 50 Đồng), xếp thứ 5/10 nước tham gia. Đây là kết quả tốt nhất trong 6 kỳ SEA GAMES của đoàn thể thao Việt Nam.


- Năm 1999: Việt Nam tham dự SEA GAMES 20 ở Brunei, với 170 VĐV, tham gia 14/21 môn thi đấu. Kết quả, Việt Nam đạt  64 huy chương (17 Vàng, 20 Bạc, 27 Đồng), xếp thứ 6/10 nước tham dự. Một số môn thế mạnh của thể thao Việt Nam như Bắn súng, Vật, Wushu... không được tổ chức.

 

- Năm 2001: Việt Nam tham dự SEA GAMES 21 ở Kualalumpur-Malaysia, với 416 VĐV, tham gia 24/32 môn thể thao. Kết quả, Việt Nam đạt 132 huy chương (33 Vàng, 35 Bạc và 64 Đồng), vươn lên xếp thứ 4/10 quốc gia tham dự trong bảng tổng sắp Huy chương.

 

- Năm 2003: Việt Nam lần đầu tiên vinh dự được đăng cai SEA GAMES 22 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 3.726 VĐV, 1.058 HLV, 2.209 trọng tài, 142 quan chức kỹ thuật, 200 khách mời, 1.068 phóng viên quốc tế và 2.300 phóng viên trong nước. Lần đầu tiên có 11 nước tham gia tranh tài ở 32 môn thể thao và 442 nội dung. Đoàn thể thao Việt Nam có 800 VĐV tham dự ở tất cả 32 môn. Kết quả, Việt Nam dẫn đầu với 346 huy chương (158 Vàng, 97 Bạc, 91 Đồng). Đây là kết quả tốt nhất từ trước đến nay của thể thao Việt Nam. Dư luận quốc tế và trong nước đánh giá rất cao về trình độ tổ chức và sự phát triển về thành tích thể thao của Việt Nam.

 

- Năm 2005: Tham dự SEA GAMES 23 tại Philippine, với 507 VĐV, tham dự 32/41 môn thể thao. Kết quả, Việt Nam đạt 228 huy chương (71 Vàng, 68 Bạc, 89 Đồng), đứng thứ 3 trong khu vực. Đây là thành tích tốt nhất của thể thao Việt Nam kể từ khi tham dự SEA Games ở nước ngoài, từ 3 Huy chương Vàng năm 1989 đến 71 Huy chương Vàng năm 2005 (gấp hơn 20 lần tổng số Huy chương Vàng đã đạt được), vương lên một trong 3 nước đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á.

 

- Năm 2007: Tham dự SEA GAMES 24 tại Thái Lan, Việt Nam đạt 204 huy chương (64 Vàng, 58 Bạc, 82 Đồng), xếp thứ 3 toàn đoàn.

 

Quan hệ hợp tác quốc tế

 

Ngoài các Đại hội thể thao kể  trên, Việt Nam còn tham gia một số giải hữu nghị như Đại hội Thể thao Sinh viên (Universiad), Festival Thể thao các nước nói tiếng Pháp, Đại hội Thể thao Olympic Trẻ (1998), Giải Vô địch các môn Thể thao Thế giới, Châu lục và Khu vực. Tại các giải này, vận động viên Việt Nam cũng giành được một số thành tích xuất sắc, khẳng định mình bằng việc giành những tấm huy chương, đem vinh quang về cho Tổ quốc. Uỷ ban Olympic Việt Nam có quan hệ thể thao với hơn 50 nước ở các châu lục trên thế giới, đã thường xuyên cử các đoàn đại biểu tham dự các Hội nghị Olympic châu lục và thế giới. Năm 1981, 1994, 1995, 2000 và 2004, mở rộng quan hệ với Uỷ ban Olympic các quốc gia: Mỹ, Nhật, Pháp, Trung Quốc, Hàn Quốc, Lào...

 

Bên cạnh đó, Uỷ ban Olympic Việt nam còn cử nhiều đoàn cán bộ dự các cuộc hội thảo, các lớp chuyên đề về tổ chức Olympic, chuyên đề khoa học, kỹ thuật Thể dục Thể thao do IOC hoặc OCA tổ chức ở Hy Lạp, Liên Xô, Thái Lan, Libang, Malaysia, Thuỵ Sỹ, Pháp... và đã thường xuyên tổ chức được nhiều lớp kỹ thuật bồi dưỡng nghiệp vụ cho hàng nghìn cán bộ, huấn luyện viên, giáo viên thể dục thể thao, trọng tài của các môn thể thao trong chương trình Olympic và cán bộ quản lý Olympic tại Việt Nam do Quỹ đoàn kết Olympic, Uỷ ban Y học của IOC tài trợ.

Tính đến năm 2006, IOC đã tài trợ thông qua Quỹ Đoàn kết Olympic tổ chức được nhiều khoá học đào tạo huấn luyện viên, cán bộ quản lý cho Việt Nam. Gần 2.000 cán bộ của chúng ta được đào tạo trong nước và ở nước ngoài, trong đó có 150 trọng tài quốc tế, gần 50 vị được tham gia vào các tổ chức thể thao quốc tế. Qua các lớp bồi dưỡng này, trình độ hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ và luật lệ thể thao quốc tế của các cán bộ Việt Nam được nâng cao một cách rõ rệt.


Từ năm 2008 đến nay, Uỷ ban Olympic Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ lớn như: Tuyên truyền-giáo dục về phong trào Olympic, tổ chức chu đáo cho các đoàn thể thao Việt Nam tham dự Thế vận hội Olympic, Paralympic tại Bắc Kinh (Trung Quốc) 2008; tham dự Đại hội Thể thao Bãi biển châu Á lần thứ nhất tại Bali (Indonesia); đã và đang chuẩn bị các nhiệm vụ cho việc đăng cai ASIAN Indoor Games III năm 2009 tại Hà Nội; chuẩn bị lực lượng vận động viên trong nước và giúp Lào tổ chức SEA Games 25 tại Viên-chăn; chuẩn bị tham dự ASEAN PARA Games lần thứ 5 tổ chức tại Malaysia.

Ngoài ra, Uỷ ban Olympic Việt Nam còn chuẩn bị cho các đoàn thể thao Việt Nam tham gia một số Đại hội khác như: Đại hội Thể thao Võ thuật châu Á, Đại hội thể thao Thanh niên châu Á, Đại hội thể thao khối Pháp ngữ, Đại hội Thể thao Thiện chí Tiểu vùng sông Mekong, Đại hội Thể thao Arafura, Đại hội thể thao học sinh Đông Nam Á; triển khai có hiệu quả các chương trình của Uỷ ban Olympic Quốc tế (IOC), Hội đồng Olympic Châu Á (OCA)…

Công tác vận động tài trợ và hợp tác phát triển: Uỷ ban Olympic Việt Nam đã tích cực phối hợp và quan hệ với IOC, Quỹ Đoàn kết Olympic, OCA, các tổ chức thể thao quốc tế khác, các công ty kinh doanh trong nước và nước ngoài để vận động tài trợ, ký kết hợp tác thể thao, hỗ trợ cho tài năng trẻ, tài trợ các trang thiết bị cho các Đoàn thể thao quốc gia và khen thưởng cho các vận động viên đạt được những thành tích xuất sắc.


Do thực hiện tốt các hoạt động đối ngoại hợp tác quốc tế, Uỷ ban Olympic Việt Nam đã được IOC tuyên dương là một trong ba quốc gia điển hình của Phong trào Olympic Quốc tế. Tại các Hội nghị Olympic, uy tín và vai trò của Uỷ ban Olympic Việt Nam ngày càng được nâng cao. Do đó, đã tranh thủ được sự ủng hộ của IOC và các Liên đoàn Thể thao quốc tế về mặt tài chính cũng như đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện viên và trọng tài thể thao.

 

Đánh giá chung những hoạt động đối nội và đối ngoại của Uỷ ban Olympic Việt nam hơn 30 năm qua, có thể nói rằng, tuy gặp nhiều khó khăn và thiếu kinh nghiệm trong hoạt động thể thao Olympic, nhưng Uỷ ban Olympic Việt Nam đã hội nhập tốt với phong trào Olympic quốc tế. Với sự cố gắng của tất cả các thành viên qua các thời kỳ, sự hợp tác và phối hợp nhuần nhuyễn giữa Uỷ ban Olympic Việt Nam với các Liên đoàn, Hiệp hội và các tổ chức thể thao Nhà nước, Uỷ ban Olympic Việt Nam đã hoành thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, nêu cao được uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Uỷ ban Olympic Việt Nam đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba, Huân chương lao động hạng Nhì.

 

Uỷ ban Olympic Việt Nam đã và đang ngày càng hoàn thiện, củng cố khối đoàn kết giữa các Liên đoàn, Hiệp hội thể thao Quốc gia theo hướng xã hội hoá, mở ra một triển vọng về mô hình mới của tổ chức thể thao xã hội thống nhất của nước ta trong thiên niên kỷ mới.

 

    

VOC (tổng hợp

  • WWW.VOC.ORG.VN - Website chính thức của Uỷ ban Olympic Việt Nam
  • Giấy phép số 233/GP-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin cấp ngày 29 tháng 07 năm 2003.
  • Cơ quan chủ quản: Uỷ ban Olympic Việt Nam.
    Người chịu trách nhiệm chính: ông Hoàng Vĩnh Giang - Phó Chủ tịch Uỷ ban Olympic Việt Nam.